Đấu thầu Mua săm công

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

5 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 546

  • Tổng 270.939

Đề cương Tuyên truyền, phổ biến về phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng

Post date: 03/12/2025

Font size : A- A A+

Trong thời gian qua, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại nhiều địa phương nói chung và tỉnh nói riêng, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và đời sống nhân dân. Trong đó, nổi lên là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng diễn biến phức tạp, có xu hướng phát triển mạnh, tăng về cả số lượng, mức độ nguy hiểm và hậu quả thiệt hại với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt bằng việc sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội. UBND phường Đồng Thuận xin đăng tải Đề cương tuyên truyền, phổ biến về phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng  để bà con Nhân dân nhận biết, hiểu rõ, phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng.

ĐỀ CƯƠNG

Tuyên truyền, phổ biến về phòng chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng

I. KHÁI QUÁT VỀ TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO

1. Khái niệm tội phạm công nghệ cao

Công nghệ cao là một khái niệm bao trùm rất nhiều lĩnh vực của khoa học công nghệ, không chỉ riêng lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, mà còn có các lĩnh vực như công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ vũ trụ. Tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, tội phạm công nghệ cao gói gọn trong các lĩnh vực mà pháp luật quy định, cụ thể tại Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ và phòng, chống tội phạm và vỉ phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao, có thể hiểu đơn giản: “Tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệ cao”.

Tội phạm công nghệ cao được quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể là tại Chương XXI (Chương quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự an toàn công cộng), Mục 2 (Quy định Tội phạm trong lĩnh vực CNTT - mạng Viễn thông), từ Điều 285 đến Điều 294. Trong đó có rất nhiều tội danh phổ biến đã và đang được Cơ quan công an các cấp điều tra, xử lý, ví dụ tội phạm được quy định tại Điều 290: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, các hành vi phổ biến về xâm phạm an ninh mạng sử dụng công nghệ cao nhưng chưa đến mức xử lý hình sự còn được quy định trong các văn bản khác như: Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 14/2022 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Trong nghị định này bao gồm rất nhiều hành vi phổ biến mà các anh/chị rất dễ gặp trong quá trình tiếp xúc, sử dụng các thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin trong cuộc sống thường ngày. Ví dụ Điều 101 quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội, gắn liền với quá trình sử dụng mạng xã hội Facebook, Zalo hàng ngày. Nếu không cẩn thận, vô tình chia sẻ, đăng tải nhầm các bài viết có nội dung thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo mức độ tương ứng.

2. Công cụ, phương tiện, ứng dụng thường ngày trong đời sống gắn liền với công nghệ cao, môi trường mạng

2.1. Các công cụ, phương tiện

Các công cụ, phương tiện phố biến trong đời sống, gắn liền hoạt động trên môi trường không gian mạng có thể kể đến như Điện thoại di động, Máy tính bàn, laptop, Máy tính bảng, đồng hồ thông minh, Tivi, tủ lạnh thông minh có kết nội mạng…

Các công cụ, phương tiện kế trên có nhiều tính năng hiện đại, giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc trong quá trình sinh hoạt, học tập, làm việc hằng ngày có thể kể đến như:

- Chức năng liên lạc: điện thoại, máy tính dùng để kết nối, liên lạc với người thân, bạn bè, bỏ qua khoảng cách địa lý, và thiết thực nhất là tiết kiệm được rất nhiều chỉ phí so với việc liên lạc truyền thống (qua thư).

- Chức năng tìm kiếm thông tin: chỉ với một chiếc điện thoại di động, laptop, máy tính bảng có kết nối mạng có thể truy cập vào các công cụ tìm kiếm phổ biến như Google, Bing... để tìm kiếm, tra cứu thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả.

- Chức năng lưu trữ thông tin: Một chức năng khác của các công cụ, phương tiện điện tử là giúp lưu trữ thông tin một cách gọn gàng, khoa học. Thông tin ở đây có thể là danh bạ liên lạc, các bản ghi chú, ảnh, video cá nhân hoặc các tài khoản ngân hàng, thông tin cá nhân như CCCD, mã sinh viên, mã định danh...

Bên cạnh những tính năng, lợi ích đó, quá trình sử dụng các công cụ, phương tiện kể trên có thể tiềm ẩn những nguy cơ, đó là:

- Bị chiếm đoạt thiết bị: Chiếm đoạt ở đây không đơn thuần là chiếm đoạt về mặt vật lý (bị mất trộm, bị cướp) mà ở đây, nguy hiểm hơn, là chiếm quyền sử dụng. Do vô tình click vào đường link lạ, tải, cài đặt các phần mềm lạ bị các đối tượng cài đặt mã độc, dẫn đến thiết bị bị chiếm quyền sử dụng, đối tượng có thể lợi dụng để theo dõi các hoạt động trên thiết bị, đồng thời dẫn đến các nguy cơ khác.

- Bị chiếm đoạt thông tin: Các thông tin có thể bị chiếm đoạt đơn giản như thông tỉn cá nhân (thẻ CCCD, mã định danh), các ảnh, video cá nhân. Sau khi chiếm đoạt, đối tượng có thể đăng tải trái phép hình ảnh, thông tin lên mạng xã hội, gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của bạn, hoặc nguy hiểm hơn, có thể lợi dụng đề giả mạo thực hiện các hành vi phạm tội khác.

- Bị chiếm đoạt tải sản: Dựa trên các thông tin đã chiếm đoạt được, kẻ xấu có thể dùng để mở tài khoản ngân hàng dựa trên thông tin bị lộ lọt, dùng tài khoản đó để mua bán hàng hóa, thực hiện hành vi phạm tội.

Các biện pháp phòng, tránh trong quá trình sử dụng các công cụ, phương tiện trên để đảm bảo an toàn:

- Lựa chọn các thiết bị có chất lượng đảm bảo, rõ nguồn gốc xuất xứ từ nhà phân phối có uy tín. Ví dụ một chiếc điện thoại mua từ cửa hàng có nguồn gốc phân phối rõ ràng, bảo hành uy tín sẽ luôn an toàn hơn so với một thiết bị được mua bán trao tay, trôi nỗi trên mạng xã hội, có thể đã bị các đối tượng cài sẵn các phần mềm theo dõi, nghe lén.

- Quá trình sử dụng, cần tránh việc tải, cài đặt các phần mềm lạ, không rõ nhà phát hành:

+ Phần mềm không được tải, cài đặt qua kênh phân phối chính thức như cửa hàng CH Play đối với các thiết bị chạy hệ điều hành Android (samsung, Oppo..), cửa hàng AppStore đối với các thiết bị chạy hệ điều hành IOS (iphone, ipad..). Các phần mềm không được cài đặt qua cáo kênh trên, mà chỉ được cài đặt từ trang web, hoặc do đối tượng lạ gửi file cài đặt tiềm ẩn nguy cơ, rủi ro cao.

+ Phần mềm yêu cầu cấp các quyền hệ thống cao, như quyền truy cập micro, camera, danh bạ lưu trữ... Ví dụ: Chúng ta tải phần mềm nghe nhạc, nhưng khi cài đặt lại yêu cầu phải cấp quyền truy cập Camera, truy cập định vị GPS, truy cập nghe, gọi..., là những quyền không liên quan, không cần thiết phục vụ việc nghe nhạc.

2.2. Các ứng dụng công nghệ phố biến

Hiện nay, có rất nhiều ứng dụng được phát hành, bao phủ lên hầu hết các mặt đời sống, xã hội. Trong đó là một số nhóm tiêu biểu như sau:

- Ứng dụng giải trí: Game, ứng dụng xem phim, nge nhạc..

- Ứng dụng mạng xã hội: Facebook, Zalo, Telegram...

- Ứng dụng TMĐT: Shopee, Lazada, Tiki..

- Ứng dụng ngân hàng: Mobile Banking, Zalo pay..

Mỗi loại ứng dụng trên lại có tính năng, lợi ích khác nhau và đi với đó là tiềm ấn những nguy cơ, rủi ro khác nhau:

- Ứng dụng TMĐT: Shopee, Lazada, Tiki...: Đây là các ứng dụng giúp người dùng mặc dù ngồi ở nhà, nhưng vẫn có thể mua được mọi thứ, tiết kiệm được thời gian, chi phí trong việc di chuyển, lựa chọn, mua bán.... Tuy nhiên, quá trình sử dụng các ứng dụng này lại đi kèm với nguy cơ như mua hàng mà mặt hàng nhận được không đúng như quảng cáo, giao dịch. Đặc biệt hiện nay, xuất hiện hình thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức tuyển cộng tác viên bán hàng trên các sàn TMĐT, lừa người dân làm nhiệm vụ mua hàng để chiếm đoạt tài sản.

- Ứng dụng ngân hàng: Mobile Banking, Zalo pay... là ứng dụng, giúp người dân thanh toán nhanh, gọn, hiệu quả, nhưng đồng thời cũng là nơi cất giữ những thông tin quan trọng, đặc biệt là tài khoản ngân hàng. Việc người dân vô tình để lộ mã OTP hoặc do cài phần mềm chứa mã độc nên bị chiếm đoạt mã OTP, dẫn đến bị mất tiền trong tài khoản đang diễn ra hết sức phổ biến.

- Ứng dụng mạng xã hội: Facebook, Zalo, Telegram... là ứng dụng mạng xã hội, phục vụ nhu câu liên lạc, tìm kiếm, kết nối bạn bè.

Năm 2021 chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của của người dùng mạng xã hội tại Việt Nam với hơn 72 triệu người (chiếm 73.7% dân số), tăng 7 triệu người so với cùng kỳ năm ngoái. Facebook là mạng xã hội phố biến nhất Việt Nam hiện nay, mức độ nhận biết thương hiệu gần như tuyệt đối, cứ 100 người thì có đến gần 99 người đăng kí tài khoản Facebook hoặc biết về mạng xã hội Facebook. Zalo - mạng xã hội nội địa Việt Nam được cho ra mắt vào năm 2012. Dựa trên kết quả khảo sát của Vinaresearch, Zalo có mức độ nhận biết đứng thứ 2 (94,3°o) ngang bằng với Youtube và chỉ sau Facebook. Trung bình cứ 100 người thì có khoảng 87 người có tài khoản Zalo. Instagram - mạng xã hội chia sẻ hình ảnh, dễ dàng nhận thấy một đặc trưng thú vị ở mạng xã hội này khác với hầu hết các mạng xã hội còn lại, cụ thể, người dùng nữ nhiều gấp 1,6 lần so với nam (44,2%và 27,4).

Trung bình 1 ngày người Việt Nam dành 2.12 tiếng để truy cập mạng xã hội, riêng đói với Fncebook thời gian truy cập mạng xã hội này là nhiều nhất (3.55 tiếng), cao hơn so với mức trung bình 1.42 tiếng. Từ những số liệu trên, cá thể dễ dàng nhận thấy mức độ phổ biến của các mạng xã hội trong đời sống xã hội vì những giá trị giải trí cũng như những tiện ích khác mà các mạng xã hội này đem lại như: công cụ giải trí, kết nối bạn bè, kênh liên lạc, tìm hiểu thông tin nhanh chóng trong thời đại 4.0, một địa điểm kinh doanh lí tưởng trên không gian mạng...

Bên cạnh những tiện ích kể trên, các nền tảng, ứng dụng mạng xã hội, bản thân chủng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến chúng ta trong quá trình tham gia, sử dụng, cụ thể:

Tính gây nghiện: Hiện nay, nghiện mạng xã hội đang là thực trạng phố biển, khiến nhiều người đùng dành ít thời gian cho người thật việc thật ở quanh mình. Nghiện mạng xã hội tuy chưa được công nhận là một căn bệnh chính thức nhưng rất nhiều nghiên cứu và điều tra đã được tiến hành với mục đích tìm hiểu thêm về điều này. Theo một nghiên cứu của Anh, nghiện mạng xã hội còn nguy hiểm hơn cả nghiện rượu bia và thuốc lá. Chúng làm giảm những giao tiếp trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày của con người, khiến nhiều người trở nên cô đơn và dễ trầm cảm hơn. Ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc có những cơ sở được lập ra để người dân, đặc biệt giới trẻ vào để “cai nghiện” mạng xã hội. “Nghiện sử dụng mạng xã hội” sẽ gây ra việc lãng phí thời gian quá nhiều vào mạng xã hội, gây mất tập trung, xao nhãng công việc; Ảnh hưởng đến sức khỏe đời sống; Tập trung quá nhìn quá nhiều vào màn hình điện thoại, máy tính, nhất là vào buổi tối sẽ gây tình trạng cận thị hay thị lực giảm sút.

Nguy cơ đến từ các nguồn thông tin sai sự thật, thiếu kiểm chứng, dễ gây hoang mang dự luận chỉ trong thời gian ngắn; Thông tin xấu, độc trên facebook có thể kể đến là những thông tin bịa đặt, sai sự thật và những thông tin đến từ “hiện tượng xấu” trên mạng xã hội, đòi hỏi mỗi người dân khi tham gia các mạng xã hội, cần cần nhắc, lựa chọn tiếp cận các nguồn thông tin một cách hợp lý, hoặc lựa chọn các kênh, fanpage chính thống của Chính phủ.

Nguy cơ bị lừa đảo, trở thành nạn nhân của tội phạm khi sử dụng mạng xã hội: Sự phổ biến của mạng xã hội đem lại nhiều mặt trái, nhiều ảnh hưởng tiêu cực, đặc biệt trong công tác đảm bảo an toàn, an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Một số nguy cơ điển hình như: Các đổi tượng xấu lợi dụng mạng xã hội làm nơi “tụ tập”, thực hiện hành vi phạm tội; Quá trình người dân tham gia các mạng xã hội có thể bị lộ, lọt thông tin cá nhân dẫn đến các hệ lụy, nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm...

3. Nguyên nhân của tội phạm và công nghệ cao

+ Do mặt trái của sự phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ trong thời đại 4.0, nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, phức tạp được các đối tượng khai thác, lợi dụng để thực hiện hành vị phạm tội. Có thể dễ dàng nhận thấy thời điểm mạng Internet xuất hiện ở Việt Nam là vào năm 1995, Thời gian đầu, mạng Internet tốc độc chậm, chỉ đủ để lên mạng, đọc báo, gửi các thư điện tử, trao đổi đơn giản. Những năm gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, các nhà mạng 3g, 4g và hiện tại 5, 6g với tốc độ cao, giá rẻ, người dân dễ tiếp cận đi truy cập vào mạng, từ đó các hành vi vi phạm pháp luật về công nghệ cao cũng phát triển theo.

- Do lỗ hổng trong công tác bảo vệ bí mật thông tin cá nhân khách hàng của các công ty, các nhà sản xuất ứng dụng trên mạng, sự lỏng lẻo trong công tác quản lý của các nhà cung cấp dịch vụ. Sim điện thoại và tài khoản ngân hàng là 02 vật thiết yếu trong cuộc sống mà bất kì ai trong chúng ta cũng sở hữu. Tuy nhiên, tình trạng lỏng lẻo của các nhà cung cấp dịch vụ mạng viễn thông và ngân hàng trong công tác cấp, phát hành, quản lý sim, thẻ, tài khoản dẫn đến tình trạng sim rác, tài khoản ngân hàng rác tràn lan. Các đối tượng lợi dụng hoạt động mở sim, tài khoản ngân hàng để gom số lượng lớn, mua, bán và thực hiện hành vị lừa đảo, chiếm đoạt tải sản.

- Do nhận thức pháp luật, ý thức của người dân trong phòng, chống tội phạm công nghệ cao còn hạn chế. Còn có hiện tượng ham lợi nhuận, cả tin vào lợi ích ảo do đói tượng đưa ra. Ý thức người dân trong bảo vệ thông tin cá nhân trên không gian mạng còn chưa cao.

II. NHẬN ĐIỆN PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỦA TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH

1. Mạo danh cán bộ Công an, Viện kiểm sát, Tòa án gọi điện lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Thủ đoạn: Đổi tượng sử dụng các dịch vụ VoIP có chức năng giả mạo đầu số, giả mạo số điện thoại, mạo danh cán bộ của cơ quan thực thi pháp luật như: Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án gọi điện nhiều lần thông báo cho bị hại với nội dung bị hại có liên quan đến một vụ trọng án, chuyên án mà cơ quan Công an đang điều tra, xác minh, đã có lệnh bắt của Viện kiểm sát nhân dân..., yêu cầu phối hợp điều tra, kê khai tài sản, số tiền mặt hiện có và số tiền gửi trong các tài khoản ngân hàng. Sau đó, đối tượng dùng những lời lẽ đe dọa sẽ bắt tạm giam nạn nhân để điều tra và yêu cầu họ chuyển tiền hoặc đọc mã OTP để chứng thực việc chuyển tiền vào các tài khoản của đối tượng với lý do chứng minh trong sạch hoặc tiền để đảm bảo bị hại không được đi khỏi nơi cư trú.

Một trong những thủ đoạn phố biến khác của loại tội phạm giả danh Cơ quan chức năng này là việc các đối tượng Lợi dụng quy định “phạt nguội” vẻ hành vi vi phạm giao thông để lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Thủ đoạn: Giả danh là cán bộ của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an, Phòng CSGT các tỉnh gọi điện thoại đến thông báo cho bị hại đã vi phạm luật giao thông nên bị “phạt nguội”, yêu câu bị hại cung cấp thông tin cá nhân và làm theo hướng dẫn để đóng phạt. Đối tượng đề nghị người nghe cung cấp số biên lai số biên bản, nếu chưa nhận được biên bản thì cung cấp tên, tuôi, địa chỉ, số CMND/CCCD, số hộ chiếu, số tài khoản ngân hàng... để Cảnh sát giao thông cung cấp cho số biên bản, hành vi vi phạm, hình thức xử lý, số tiền xử phạt... để được xử lý nhanh. Sau đó, chúng yêu cầu bị hại chuyển tiền vào tài khoản của chúng để xác minh, điều tra, xử lý "phạt nguội" thuận lợi. Đồng thời, yêu cầu nạn nhân giữ bí mật với gia đình, kể cả nhân viên ngân hàng về mục đích chuyển tiền nhằm chiếm đoạt.

- Biện pháp phòng tránh: Không nhận cuộc gọi từ các số lạ tự xưng là cán bộ công an, viện kiểm sát thông báo vụ án. Các tài khoản Zalo, Facebook có tên như “Đội điều tra”, “Phòng hình sự...”. Theo quy định, cơ quan công an khi cần liên lạc, làm việc với người dân sẽ có 5 thông báo, giấy mời bằng văn bản, không liên lạc qua các mạng xã hội như Facebook. Mặt khác, các thông tin liên quan đến vụ án, các quyết định tố tụng như Quyết định khởi tố, phong tỏa tài sản cũng không được tự ý gửi, sao chụp qua mạng xã hội. Nếu số điện thoại, tài khoản mạng xã hội nào có các hành vi trên thì rất có thể đây là tài khoản của đối tượng lừa đảo.

2. Lừa đảo qua hình thức giả đanh người nước ngoài

- Thủ đoạn: Đối tượng tự xưng là người nước ngoài, kết bạn làm quen với bị hại qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...) và thường xuyên nói chuyện, trao đổi thông tin. Sau một thời gian quen nhau, đối tượng nói sẽ gửi quà, tiền ủng hộ về Việt Nam cho bị hại với giá trị lớn. Tuy nhiên, sau đó bị hại nhận được Cuộc gọi từ người tự nhận là nhân viên sân bay, nhân viên hải quan yêu cầu bị hại nếu muốn nhận quà thì phải chuyển khoản để thanh toán các khoản như phí dịch vụ, phí phát sinh trong quá trình vận chuyển từ nước ngoài về để thông quản... Do tin tưởng nên bị hại đã chuyển tiền vào tài khoản do các đối tượng cung cấp, sau đó các đối tượng này cắt đứt liên lạc, chiếm đoạt tiền.

- Biện pháp phòng tránh: Không nhận lời mời kết bạn qua mạng xã hội từ các tài khoản lạ, tài khoản có thông tin nước ngoài không rõ ràng, không có cơ sở để biết người đó thực tế là ai.

3. Chiếm đoạt sim số điện thoại để nhận mã OTP từ các ví điện tử, tài khoản ngân hàng

Thủ đoạn: Đối tượng giả mạo nhân viên các nhà mạng viễn thông di động; gọi điện đến bị hại với lý do hướng dẫn nâng cấp sim 3G lên 4G, chuyển đầu mạng, nhận dung lượng 3G miễn phí.. . hướng dẫn bị hại tự thao tác nhập cú pháp vào máy nhưng thực chất là thao tác đổi số điện thoại từ thẻ sim này sang thẻ sim khác mà đối tượng đã chuẩn bị trước. Bằng thủ đoạn này các đối tượng chiếm quyền sử dụng sim số điện thoại của bị hại, từ đó nhận các mã OTP, tin nhắn ngân hàng, nhà mạng, ứng dụng... để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt quyền sử dụng các tài khoản cá nhân, đánh cắp thông tin cá nhân của bị hại.

- Biện pháp phòng tránh:

Khi nhận cuộc gọi của người tự nhận là nhân viên nhà mạng, cần kiểm tra kĩ xem số điện thoại gọi đến có phải đầu số máy dịch vụ của nhà mạng không hay là số cá nhân? Nếu là số cá nhân thì cần để ý, cảnh giác.

Không tự ý thao tác theo hướng dẫn qua điện thoại mà có thể ghi chép lại, lên mạng tìm hiểu hoặc nhờ người kiểm tra trước khi thực hiện. Đối với các giao dịch quan trọng như chuyển đổi sim, tốt nhất nên đến trực tiếp tại nhà mạng để thao tác.

4. Giả mạo nhân viên ngân hàng, chiếm đoạt tài khoản

Thủ đoạn: Đối tượng đăng tải các bài viết kêu gọi người đến đăng ký mở tài khoản trực tiếp tại ngân hàng hoặc đăng ký bằng dịch vụ mở thẻ online của các ngân hàng để nhận được tiền công, hướng dẫn người mở tài khoản điền số điện thơại của đối tượng vào mục số điện thoại dịch vụ Internet Banking. Sau khi có các tải khoản ngân hàng này, các đối tượng cho thuê, bán, sử dụng cho các hoạt động phạm tội khác (như nhận tiền bị hại trong các vụ lừa đảo), do đó chủ các tài khoản này vô tình liên quan đến các vụ việc, vụ án đang xác minh điều tra và gây khó khăn trong công tác xác minh, đấu tranh làm rõ.

- Biện pháp phòng tránh:

Không mở tài khoản ngân hàng tràn lan nếu không cần thiết, vừa tốn kém các chi phí duy trì tài khoản, vừa khó kiểm soát.

Không nhận lời kêu gọi mở tài khoản lấy tiền, không sử dụng thông tin cá nhân của mình mở tài khoản ngân hàng cho người khác sử dụng.

5. Giả mạo website, đầu số tin nhắn (Brand name) của ngân hàng cung cấp các địch vụ cho vay trực tuyến, facebook của những người ni tiếng kêu gọi chuyến tiền ủng hộ

Thủ đoạn: đối tượng mạo danh các đầu số tin nhắn như 87xx, 85xx gửi tin nhắn có nội dung hỗ trợ chống dịch, an sinh xã hội, từ thiện với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tiền ủng hộ. Giả mạo đầu số của Bảo hiểm xã hội gửi tin nhắn có nội dung nhận tiền trợ cấp do ảnh hưởng dịch Covid sau đó chiếm đoạt tài khoản ngân hàng, ví điện tử, chiếm đoạt tiền.

- Biện pháp phòng tránh: Trước khi gửi tiền tham gia, ủng hộ các hoạt động xã hội, cần tiền hành kiểm tra chéo, đối chiếu thông tin của cuộc vận động hỗ trợ đó với thông tin chính thông trên báo.  

6. Lừa đảo trong lĩnh vực đa cấp, tiền ảo, chứng khoán, sàn vàng qua hình thức IPO

Thủ đoạn: Đối tượng đánh vào lòng tham của người dân, kêu gọi đầu tư vào các sàn với mức lợi nhuận hấp dẫn, sau đó đánh sập các sản này để chiếm đoạt tài sản.

- Biện pháp phòng tránh:

Không nên tin tưởng vào lời kêu gọi đầu tư mà đối tượng đưa ra lãi suất cao bất thường (cao gấp nhiều lần so với gửi ngân hàng), cam kết 100% có lợi nhuận, hoặc cam kết không cần làm gì cũng có lợi. Đây là những lời kêu gọi phổ biến của các đối tượng lừa đảo.

Trước khi bỏ tiền đầu tư vào bất kì sàn, dự án nào, không nên chỉ nghe thông tin giới thiệu đơn thuần từ một người, mà nên kiểm tra, tìm kiếm, đối chiếu chéo thông tin trên các phương tiện truyền thông. Có thể thêm cụm từ “lừa đảo” để kiểm tra. Ví dụ: đối với dự án sàn A, anh/chị có thể gõ trên Google cụm từ: “Sản A lừa đảo”, “Sản A có uy tín không”,.. để xem đánh giá, nhận xét từ nhiều nguồn.

7. Lừa đảo tỗ chức cho vay qua các ứng dụng vay tiền trực tuyển, cho vay ngang hàng (P2P Lending)

Thủ đoạn: Các đối tượng tạo ra các phần mềm có giao diện hỗ trợ vay tiền thủ tục đơn giản, giải ngân nhanh, lãi suất thấp. Tuy nhiên khi người dùng đăng kí sử dụng thì có 02 trường hợp xảy ra:

- Trường hợp 01, ứng dụng giải ngân được tiền, nhưng đưa ra nhiều loại phí phát sinh (phí hồ sơ, phí bảo hiểm...) nhằm “lách” quy định về lãi suất cho vay, nhưng bản chất là hoạt động tín dụng đen.

- Trường hợp 2: Ứng dụng yêu cầu người vay tiền đóng nhiều khoản tiền phí đảm bảo khác nhau hoặc lấy lí do người dùng nhập sai thông tin để phạt, bắt người dùng nộp tiền đảm bảo trước để được cho vay, sau đó chiếm đoạt.

- Biện pháp phòng tránh:

Cẩn thận với các ứng dụng cho vay tiền trên mạng với các chiêu bài dụ dỗ phổ biến như: giải ngân nhanh, thủ tục đơn giản, chỉ cần số điện thoại...

Cần đọc kĩ các điều khoản khi tham gia vay, đồng thời chú ý các thông tin nhập vào để tránh sai sót. Đễ ý lãi suất, đồng thời nếu đối tượng đưa ra quá nhiều các chi phí, khoản phụ phí khác thì cảnh giác trước khi nộp.

8. Lừa đảo bằng hình thúc tuyển cộng tác viên bán hàng tại nhà cho sàn thương mại điện từ Shopee.vn, Sendo.vn...

Thủ đoạn: Đối tượng tạo các bài viết trên Facebook tuyển CTV làm nhiệm vụ mua hàng trên sàn thương mại điện tử Shopee.vn, cam kết hoàn lại 100% tiền gốc cộng thêm 10-20% tiền hoa hồng cho mỗi đơn hàng thành công. Tuy nhiên các thao tác mua hàng không tiến hành trên ứng dụng “Shopee” mà thông tin sản phẩm cần mua được gửi qua tin nhắn Zalo, sau đó bị hại phải chuyên tiền mua sản phẩm đến tài khoản ngân hàng được các đối tượng chỉ định. Đề tạo lòng tin, lúc đầu đối tượng đưa ra các sản phẩm có trị giá thấp từ vài trăm nghìn đồng, sau khi bị hại hoàn thành thì đối tượng chuyển hoàn lại cả tiền gốc lẫn hoa hồng đúng như cam kết. Nhưng đối với những sản phẩm tiếp theo, trị giá sản phẩm tăng lên, sau khi bị hại chuyển tiên, đối tượng dùng nhiều lý do đề thoái thác, không trả tiền như cam kết.

Biện pháp phòng tránh: Đây là hình thức lừa đảo mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Do thủ đoạn nhất quán, chúng ta dễ nhận biết hình thức này khi chỉ cần thấy các nội dung: tuyển cộng tác viên sendo, shopee, đồng thời đưa ra nhiệm vụ mua hàng qua zalo, telegram thì chắc chắn là đối tượng lừa đảo.

9. Lừa đảo bằng hình thức hack facebook người thân giả mượn tiền

Thủ đoạn: Các đối tượng hack, chiếm quyền sử dụng facebook và vào đọc, nghiên cứu các nội dung tin nhắn trong tài khoản. Sau đó, đối tượng mạo danh tải khoản Facebook trên nhắn cho bạn bè, người thân giả mượn tiên để thực hiện hành vị chiếm đoạt tài sản.

Các hình thức chiếm đoạt Facebook phổ biển:

- Đưa ra các đường link giả nội dung kêu gọi bình chọn bài hát Việt, bình chọn cuộc thi trực tuyến, nhờ mọi người nhắn vào link để ủng hộ.

- Đưa ra các ứng dụng hấp dẫn trên Facebook như: ứng dụng đo tuổi thật của bạn, ứng dụng Đoán tương lai của bạn, “Ai sẽ là người tặng quà cho bạn...” Khi người sử dụng bấm vào cáo ứng dụng này sẽ buộc phải nhập thông tin tài khoản, cắp quyền truy cập tài khoản để đối tượng chiếm đoạt.

Biện pháp phòng tránh: Đây là hình thức lừa đảo đã xuất hiện từ lâu, được cơ quan chức năng cảnh báo rộng rãi, Khi bạn nhận được tin nhắn hỏi mượn tiền từ người thân qua mạng xã hội, cần để ý:

- Xác nhận con người, kiểm tra bằng kênh liên lạc khác (gọi điện trực tiếp bằng số điện thoại, gọi Zalo...) để xem có phải người thân của mình không.

- Để ý số tài khoản nhận tiền, nếu tài khoản lạ, không phải tên của người mượn tiền thì cần xác nhận kĩ.

KẾT LUẬN

Không gian mạng đã tạo ra những thay đổi vô cùng lớn đối với đời sống xã hội, sự phát triển của không gian mạng là một thực tế khách quan và không thể đảo ngược. Cùng với những lợi ích đem lại, không gian mạng cũng xuất hiện những nguy cơ mới, đa đạng hơn, tiềm tàng hơn, nguy hiểm hơn, gay gắt hơn những nguy cơ mà chúng ta từng đối mặt. Nguy cơ có thể đến nhanh chóng từ việc mắt kiểm soát về an toàn, an ninh thông tin mạng, các thông tin xấu, xâm hại đời sống văn hóa tinh thần, thách thức các giá trị truyền thống, các giá trị lịch sử, lai tạp các giá trị mới không phù hợp, niềm tin và lý tưởng bị phai nhạt, các giá trị cộng đồng bị xem nhẹ, nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị và “tự diển biến”, “tự chuyển hóa” khó lường hơn; những thách thức “diễn biến hòa bình", bạo loạn, lật đổ và lệ thuộc vào bên ngoài rõ nét hơn.

Nguy cơ có thể đến từ các hoạt động mạng tiềm tàng, tấn công phá hoại hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống phục vụ sản xuất kinh tế, dân sinh, an sinh, quốc phòng; đe dọa khủng bố mạng và hình thái chiến tranh mới - chiến tranh mạng với mức độ tàn phá khủng khiếp chưa thể hình dung, đo đếm, định lượng. Nguy cơ có thể đến từ sự mất kiểm soát về quản lý nhà nước, khi xu hướng tự do, thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trên không gian mạng có dấu hiệu gia tăng, các hoạt động “ngầm” vì thế phát triển, xã hội thất thu thuế, nguồn lực quốc gia chảy ra bên ngoài, tội phạm về tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp, gây khó khăn về quản lý và an sinh.

Một đất nước không ổn định về an ninh trật tự thì không thể phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, bảo vệ an ninh thông tin, an ninh mạng là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị, của cả nhân dân nói chung và các cơ quan, đơn vị đang hoạt động trên lĩnh vực này nói riêng.

More